Ai mà chẳng hay suy nghĩ vẩn vơ? Vậy nếu như lúc nào chúng ta cũng để đầu óc vẩn vơ thì sẽ gây ra hậu quả gì?
Nguồn: 兜兜成长日记
Người dịch: Miên.
Bài viết không đại diện cho quan điểm cá nhân của người dịch. Vui lòng không tự ý repost.
Đạo trưởng Trương Chí Thuận từng kể một chuyện mang tên “Di Kim” (để lại vàng). Theo lời ông, đây là một câu chuyện có thật mà chính sư huynh của ông đã trực tiếp trải qua.
Năm 1931, khu vực Hà Nam và An Huy gặp phải nạn đói và thiên tai liên tiếp. Ở huyện Lâm Tuyền, tỉnh An Huy có một người phụ nữ, người thân trong nhà đều đã qua đời. Bà chỉ còn lại đứa con trai khoảng 11, 12 tuổi, hai mẹ con phải rời quê đi tha hương cầu thực, vừa đi vừa xin ăn, cuối cùng lưu lạc đến tận Thượng Hải.
Đến Thượng Hải, người mẹ kiếm sống bằng việc giặt quần áo, lau giày, chùi gấu quần cho người qua đường. Còn cậu bé thì tiếp tục ra phố ăn xin.
Lúc đó, một vị sư huynh của đạo trưởng Trương Chí Thuận đang tá túc tu hành tại Bạch Vân Quán ở Thượng Hải.

Câu chuyện này có liên quan đến một vị tri khách trong đạo quán. Trong chùa chiền hay đạo quán, tri khách là người phụ trách tiếp đón khách thập phương. Nhưng công việc này thực ra không hề đơn giản.
Bề ngoài, họ chỉ là người tiếp đón hương khách đến lễ bái. Nhưng trên thực tế, nhiệm vụ quan trọng hơn là duy trì quan hệ với các quan chức, nhân vật có địa vị và những người có ảnh hưởng trong chính quyền. Hương khói của một ngôi chùa hay đạo quán có hưng thịnh hay không, phần lớn phụ thuộc vào năng lực của vị tri khách này.
Một hôm, vị tri khách ấy ra ngoài làm việc cho cơ quan chính quyền. Vừa bước ra khỏi cửa, rẽ qua góc phố thì bị cậu bé ăn xin kia chặn lại xin tiền.
Ông thấy đứa trẻ này rất lanh lợi, đôi mắt sáng và có thần thái thông minh khác thường, bèn hỏi:
“Cháu là người ở đâu? Sao lại lưu lạc tới đây ăn xin thế này?”
Cậu bé cũng không giấu giếm, thành thật kể rằng mình là người An Huy, theo mẹ chạy nạn đến Thượng Hải và phải đi xin ăn để sống. Vị tri khách rất quý mến đứa trẻ này nên nói:
“Hay là cháu đến ở trong đạo quán của chúng ta đi. Chúng ta ăn gì thì cháu ăn nấy, quần áo mũ nón cũng do quán lo cho. Mỗi tháng còn cho cháu thêm ít tiền tiêu vặt nữa.”
Cậu bé về bàn với mẹ. Người mẹ nghe xong cảm thấy đây đúng là chuyện tốt hiếm có, dù sao cũng còn tốt hơn việc phải đi ăn xin ngoài đường, nên đã đưa con trai đến đạo quán.
Chẳng mấy chốc đã trôi qua 4, 5 tháng, Tết cũng sắp đến. Vị tri khách gọi cậu bé đến và nói:
“Tết này cháu đừng vội về thăm mẹ nhé. Dịp năm mới, các quan lớn và người giàu ở Thượng Hải đều đến lễ bái trong quán. Cháu phụ giúp rót trà, bưng nước, tiếp khách thì họ sẽ cho cháu tiền mừng tuổi.”
Thế là cậu bé trở thành tri tùy, tức người phụ việc, đi theo hỗ trợ vị tri khách.
Đến Tết, cậu bé bưng trà rót nước dâng cơm cho các hương khách, hương khách tiện tay lì xì cho cậu. Có người cho một đại bản, có người cho hai, ba bản, thậm chí năm, sáu bản. Thời ấy, khoảng một trăm hoặc hai trăm đồng tiền đồng được xâu lại thành một xâu, gọi là một đại bản.
Qua rằm tháng Giêng, ăn Tết xong xuôi, cậu bé đã tích góp được một khoản tiền mừng tuổi khá lớn. Cậu đem đổi số tiền đồng ấy lấy được hai đồng bạc trắng (hương ngân). Cộng thêm hai đồng bạc mà đạo quán phát cho cậu, tổng cộng cậu có trong tay bốn đồng bạc.
Vị tri khách nói với cậu:
“Ngày mai là mười sáu tháng Giêng rồi, cháu có thể mang số tiền này về thăm mẹ. Ở nhà chơi với mẹ thêm vài ngày rồi quay lại cũng không muộn.”
Cậu bé vui đến mức không ngủ được. Cậu lấy một mảnh vải khăn lớn, bọc số tiền ấy lại hết lớp này đến lớp khác, rồi còn dùng dây buộc chặt bên ngoài.
Buộc xong, cậu cẩn thận nhét nó vào chiếc túi lớn được may ở mặt trong áo. Chiếc túi này là do mẹ cậu tự tay may thêm cho con, nằm ở khoảng từ ngực xuống bụng, rất rộng và sâu. Bà sợ con trai đi xin ăn có đồ ăn hay đồ vật mang về mà không có chỗ đựng nên mới đặc biệt may chiếc túi ấy.
Trên đường về nhà, cậu bé vừa đi vừa hớn hở. Khi ghé vào nhà vệ sinh công cộng để đi vệ sinh, lúc kéo áo lên, chiếc túi tiền được buộc rất chặt ấy bất ngờ “vút” một cái rơi thẳng xuống hố xí.
Thời đó, nhà vệ sinh ở thành phố vẫn là kiểu hố xí khô truyền thống, miệng hố rất nhỏ nhưng bên dưới lại sâu tới hơn chục mét, vài năm thậm chí cả chục năm mới được dọn một lần.
Cậu bé đi vệ sinh xong, lặng lẽ trở về nhà. Cậu đặt những thứ mang về cho mẹ xuống, ngồi một lúc rồi ngay chiều hôm đó lại quay trở về đạo quán.
Vị tri khách thấy vậy liền hỏi:
“Sao cháu quay lại sớm thế? Chẳng phải ta bảo ở với mẹ thêm vài ngày sao?”
Cậu bé đáp:
“Ở nhà cũng chẳng có việc gì nên cháu về luôn.”
Nhưng thực ra trong lòng cậu vô cùng đau khổ. Số tiền cậu đánh mất ấy đủ để hai mẹ con sống bằng bánh bao trong suốt 3 năm trời.
Bởi vào thời đó, chỉ cần một đồng tiền nhỏ đã có thể mua được một chiếc màn thầu. Thế là cậu bắt đầu ngày ngày đau đáu. Cả tháng trôi qua vẫn còn tiếc, nói năng cũng ít đi, cơm cũng ăn ít lại.
2 tháng… 3 tháng… 4 tháng…
Cậu ăn càng lúc càng ít, khuôn mặt vàng vọt, hõm sâu, người ngày càng gầy guộc. Ngay cả lúc phụ giúp tiếp khách cũng trở nên chậm chạp, yếu ớt như không còn sức lực.
Mọi người đều nghĩ rằng cậu đã mắc bệnh gì đó. Vị tri khách đưa cậu đi khám khắp nơi nhưng chữa mãi vẫn không khỏi. Cứ lần lữa mãi, đến nỗi cậu bé đi lại cũng không nổi.
Vị tri khách thấy tình hình không ổn, bèn gọi vài vị sư huynh đệ tu hành trong quán đến và nói:
“Có khi nào nó bị tà khí nhập vào không?”
Mọi người bàn bạc một hồi rồi đến gặp cậu bé. Họ lấy sợi dây đỏ buộc vào tay cậu, giữ cậu lại rồi hỏi:
“Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?”
Cậu bé vẫn lắc đầu:
“Con không sao cả.”
Vị tri khách nghiêm giọng:
“Nếu còn không nói thật, ta treo con lên xà nhà rồi đánh đấy!” – Vừa nói, ông vừa giả vờ lấy dây buộc lên xà nhà.
Cậu bé hoảng sợ đến tái mặt, luôn miệng kêu:
“Con không bị bệnh thật mà! Con thật sự không bị bệnh!”
Vị tri khách hỏi:
“Không bệnh mà ăn chẳng được bao nhiêu, gầy đến trơ xương, đi cũng đi không nổi. Chắc chắn phải có chuyện gì.”
Lúc này cậu bé mới cúi đầu nói nhỏ:
“Con không bệnh… con chỉ nhớ tiền của con thôi…”
Rồi cậu kể hết mọi chuyện. Hai đồng bạc mà đạo quán phát cho cậu, cộng với hai đồng bạc đổi từ tiền mừng tuổi, tổng cộng là bốn đồng bạc, đều đã rơi xuống hố xí hôm về thăm mẹ.
Nghe xong, vị tri khách bật cười:
“Ta còn tưởng chuyện gì lớn lắm. Nếu chỉ là vậy thì dễ rồi. Mất bốn đồng bạc, vậy chúng ta lại cho con bốn đồng bạc khác là được.”
Vị trụ trì nghe vậy liền lắc đầu:
“Không được đâu. Bây giờ dù anh có đưa cho nó mười đồng bạc, nó vẫn chỉ nghĩ đến bốn đồng bạc kia thôi.”
Vị tri khách nói:
“Vậy thì chỉ còn cách nhờ bên vệ sinh thành phố điều người đến vét cái hố xí đó lên thôi.”
Thời ấy muốn tìm người làm công việc này cũng không dễ. Vì thế vị tri khách bàn với những người công nhân:
“Trong hố xí có bốn đồng bạc. Các anh đào được số tiền đó lên giao lại cho chúng tôi, chúng tôi sẽ trả thêm cho các anh bốn đồng bạc nữa.”
Nghe vậy, đám công nhân đều vui vẻ nhận lời. Đến ngày vét hố, vị tri khách đích thân dẫn người đứng canh quanh nhà vệ sinh từ đầu đến cuối, chỉ sợ số tiền bị thất lạc thêm lần nữa.
Vị trụ trì còn nói:
“Nếu không tìm lại được số tiền ấy, đứa bé này e rằng khó giữ được mạng sống. Lỡ như có công nhân đào được rồi lén giấu đi thì phiền to.”
Cuối cùng, họ không để công nhân trực tiếp đào nữa, chỉ bảo họ đứng bên ngoài canh giữ không cho người khác tới gần, còn người trong đạo quán tự mình xuống đào tìm.
Cứ như vậy, họ đào bới gần hai ngày trời. Cuối cùng, họ cũng nhìn thấy nó. Người ta dùng chiếc cào móc cái bọc vải ấy lên, rồi đem ra rửa sạch bằng nước. Sau đó mang vào phòng khách của đạo quán. Một đám người đứng xung quanh, hồi hộp nhìn từng lớp vải được mở ra. Cái bọc được quấn rất nhiều lớp.
Lớp thứ nhất mở ra…
Lớp thứ hai mở ra…
Đều đã thấm đầy nước bẩn và chất thải.
Nhưng đến lớp thứ ba…
Lớp thứ tư…
Lớp thứ năm…
Mọi thứ hoàn toàn thay đổi.
Ba lớp vải bên trong ấy đều đã nhuộm đỏ bởi huyết. Khi mở đến lớp cuối cùng, mọi người nhìn thấy bốn đồng bạc được xếp ngay ngắn bên trong.
Khác với những lớp vải bên ngoài thấm đẫm huyết đỏ, trên lớp trong cùng không còn những vệt loang lổ nữa. Thay vào đó, trên bề mặt những đồng bạc là vô số sợi huyết nhỏ mảnh như tơ nhện quấn chằng chịt quanh chúng.
Có sợi màu đỏ, có sợi màu vàng, lại có cả sợi màu trắng. Ba màu đan xen, quấn chặt lấy bốn đồng bạc ấy như thể chúng đang bám rễ vào từng đồng tiền.
Tất cả mọi người có mặt đều sững sờ đến mức không nói nên lời. Không ai hiểu chuyện gì đang xảy ra.
Lúc ấy, một vị lão đạo sĩ lớn tuổi trong quán bước tới, chỉ nhìn qua một cái rồi khẽ lắc đầu, lẩm bẩm một mình:
“Bảo sao con người tu đạo mãi mà không thành…”

Khi đó, sư huynh của đạo trưởng Trương Chí Thuận cũng có mặt tại hiện trường. Sau này ông kể lại toàn bộ câu chuyện ấy cho đạo trưởng Trương nghe và hỏi:
“Sư đệ có biết chuyện này rốt cuộc là thế nào không?”
Đạo trưởng nghe xong liền hiểu ngay chuyện gì đã xảy ra.
Theo cách lý giải của Đạo gia, những vệt huyết thấm ở các lớp vải bên ngoài không phải máu thật, mà là thứ được hình thành do chân khí của trời đất ngưng tụ thành hình.
Còn những sợi tơ huyết quấn quanh bốn đồng bạc bên trong được cho là tinh, khí và thần của chính cậu bé, bởi cậu đã ngày đêm nhớ thương và tiếc nuối số tiền ấy đến mức không thể buông xuống.
Tinh tượng trưng cho căn nguyên của sinh mệnh, biểu hiện bằng màu trắng.
Khí là sức sống và năng lượng vận hành trong cơ thể, mang màu đỏ.
Thần (hay ý niệm, tâm ý) là phần tinh thần và ý thức của con người, được biểu hiện bằng màu vàng.
Màu vàng tương ứng với tỳ vị, thuộc hành Thổ.
Màu đỏ tượng trưng cho Hỏa khí của tim và gan.
Màu trắng là tinh hoa của thận Thủy. Vốn dĩ thận Thủy thuộc màu đen, nhưng khi Thủy Hỏa giao hòa, được chân khí luyện hóa thì sẽ chuyển thành thứ gọi là “bạch tinh”.
Đợi đến khi bốn đồng bạc ấy được mang trở về, chưa đầy 1 tháng sau, cậu bé đã lại trắng trẻo, mập mạp như trước.
Đạo trưởng Trương Chí Thuận từng cảm thán:
“Nếu người tu đạo mà dốc lòng như cậu bé nhớ tiền kia, thì cứ một trăm người tu là có đủ một trăm người đắc đạo.”
Theo quan niệm Đạo gia, tu hành chính là biết thu nhiếp tinh, khí, thần, không để chúng thất thoát ra ngoài. Tạm gác chuyện tu đạo sang một bên, ngay cả trong cuộc sống bình thường, điều này cũng được dùng để lý giải hiện tượng mà chúng ta gọi là suy nghĩ quá nhiều hay miên man không dứt. Khi con người dồn tâm trí quá mức vào một sự việc nào đó, tinh thần và năng lượng cũng sẽ theo đó mà bị tiêu hao.
Trong quan niệm này, đó là một sự thất thoát năng lượng rất lớn. Đạo trưởng còn kể thêm một câu chuyện khác mà chính ông từng tận mắt chứng kiến, gọi là chuyện “ba ba nhìn trứng”. Con ba ba nằm trong nước, ló đầu lên, dùng ánh mắt nhìn chằm chằm vào ổ trứng trên bờ, cứ nhìn mãi như thế mà có thể ấp cho trứng nở.
Một loài khác tương tự là chim trĩ rừng. Người xưa cho rằng chim trĩ không chỉ dùng thân nhiệt để ấp trứng mà còn dùng sự tập trung của bản thân, như thể “lắng nghe” và truyền sự sống vào trong quả trứng.
Những câu chuyện này đều muốn nói đến cùng một ý: Chỉ cần động tâm, tức là đã bắt đầu tiêu hao tinh thần và năng lượng.
Bạn càng dồn nhiều tâm trí vào điều gì đó, sự tiêu hao ấy càng lớn. Còn suy nghĩ miên man vô định lại càng đáng sợ hơn. Bởi nó không có phương hướng rõ ràng, giống như nước lũ vỡ đê chảy tràn ra bốn phía, không điểm dừng, không giới hạn, lúc nào cũng âm thầm bào mòn con người.
Đứa trẻ nhớ tiền rồi cũng đến ngày tìm lại được tiền. Con ba ba nhìn trứng rồi cũng đến ngày trứng nở. Chúng đều có điểm kết thúc. Nhưng những suy nghĩ vô tận của con người thì khác. Chúng giống như nước biển tràn lan vô bờ bến, không có điểm đầu cũng chẳng có điểm cuối.
Cho nên, theo cách nhìn của người xưa, ai hay suy nghĩ vẩn vơ chẳng mấy khi sống thọ.
